Phiên chất vấn tại kỳ họp 10-HĐND tỉnh khóa VIII thể hiện được tinh thần xây dựng, khách quan

Ngày đăng bài: 11/07/2014 | Tác giả: N.V.C | Nguồn: www.bentre.gov.vn

Chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp tại Kỳ họp, tạo điều kiện để đại biểu trao đổi trực tiếp với các cơ quan quản lý nhà nước, nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đại biểu, người đại diện cho ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đây là cơ hội để đại biểu phản ánh những bức xúc của nhân dân thông qua tiếp xúc cử tri, thảo luận tổ và từ những nhìn nhận thực tế xã hội. Đây cũng là cơ hội để Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành chức năng trực tiếp giải trình, giải thích, thông tin cho đại biểu và cử tri được rõ về những vấn đề bức xúc hiện nay.

Ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị trong chất vấn, việc tranh luận là cần thiết nhằm làm rõ vấn đề, tuy nhiên, mọi sự tranh luận đều phải trên tinh thần xây dựng, khách quan, mục đích cuối cùng là hướng đến sự đồng thuận, thấu hiểu giữa các bên. Nội dung chất vấn và trả lời chất vấn như sau:

Đại biểu Đỗ Thị Thu Thảo, đơn vị huyện Châu Thành, chất vấn Giám đốc Sở Công thương về định hướng mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, tránh sự phụ thuộc của tỉnh vào thị trường Trung Quốc trong điều kiện tranh chấp biển đảo gay gắt, gây khó khăn trong việc xuất khẩu nông sản hiện nay.

Đại biểu Huỳnh Văn Thanh chất vấn tại Kỳ họp. (Ảnh: N.V.C)

Ông Trương Minh Nhựt, Giám đốc Sở Công thương trả lời chất vấn: Trung quốc là thị trường xuất khẩu lớn và chiếm tỷ trọng 12,26% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc không ổn định và có xu hướng giảm. Năm 2011, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 71,571 triệu USD chiếm 19,52% tổng kim ngạch; năm 2013 đạt 53,42 triệu USD, chiếm 10,30% và 6 tháng đầu năm 2014 đạt 27,33 triệu USD chiếm 9,69%; tăng trưởng bình quân giai đoạn này âm 0,54%/năm (tăng trưởng bình quân XK chung của tỉnh tăng 25,22%/năm). Điều này cho thấy, xuất khẩu của tỉnh đang giảm dần và bớt sự lệ thuộc và thị trường Trung Quốc.

Các mặt hàng xuất khẩu phần lớn là nông sản, nguyên liệu thô. Trong đó chủ yếu dừa trái cùng 15 sản phẩm từ dừa: dừa trái trên dưới 100 triệu trái/năm (chiếm từ 13 – 26% so với sản lượng và chiếm tỷ trọng 40 - 45% giá trị); chỉ xơ dừa từ 62.000 – 72.000 tấn (chiếm trên 90% so với sản lượng và 28 - 33% giá trị); kẹo dừa từ 5.300 – 8.000 tấn (chiếm từ 15 – 26% so với sản lượng và 10 – 15% giá trị); còn lại các sản phẩm khác như than, thạch dừa, thuỷ sản các loại, gạo, nhân hạt điều... chiếm trên dưới 1% giá trị và so với sản lượng.

Ngoài các sản phẩm một số loại trái cây của Bến Tre cũng được xuất khẩu tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc nhưng không ổn định như: chôm chôm khoảng 6.000 – 8.000 tấn/năm (chiếm từ 8 - 10% so với sản lượng), nhãn khoảng 10.000 – 12.000 tấn (chiếm từ 25 - 30% so với sản lượng), sầu riêng khoảng 1.000 tấn (chiếm khoảng 6% so với sản lượng), măng cụt khoảng 500 tấn (chiếm khoảng 5% so với sản lượng). Các loại trái cây được  xuất tiểu ngạch thường không có hợp đồng xuất khẩu, hàng mang lên biên giới mới thỏa thuận giá, chấp nhận giá nào thì bán giá nấy, thanh toán bằng nhân dân tệ và được chuyển đổi sang VND ngay tại biên giới.

Như vậy trước diễn biến phức tạp trên biển Đông, trong trường hợp xấu nhất Trung Quốc áp dụng biện pháp hạn chế thương mại với Việt Nam thì sẽ có tác động ảnh hưởng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu của tỉnh nhưng mức độ không lớn, chủ yếu nhóm mặt hàng nông sản, dừa khô và các sản phẩm phụ chế biến từ dừa như chỉ xơ dừa, kẹo dừa. Dự báo trong ngắn hạn kim ngạch xuất khẩu có thể sẽ giảm khoảng 2-4% (tương đương 12 - 24 triệu USD) trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của tỉnh.

Để chủ động ứng phó với những tác động nếu có xảy ra và từng bước hạn chế việc xuất khẩu lệ thuộc vào thị trường nhất định. Sở Công thương đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường cho từng mặt hàng: Mặt hàng dừa trái, tập trung cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến dừa của tỉnh; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất đa dạng hóa sản phẩm, chế biến các sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao để xuất sang thị trường các nước khu vực Trung Đông, EU và Mỹ ... đang có nhu cầu nhập khẩu. Mở rộng thị trường xuất khẩu dừa trái sang Thái Lan. Mặt hàng chỉ sơ dừa tiếp tục giữ vững thị trường Hàn Quốc, Đài Loan và nâng cao chất lượng hiện có. Tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ nghiên cứu đa dạng các sản phẩm mới sau chỉ để có thể xuất khẩu sang thị trường EU, Mỹ,..Mặt hàng kẹo dừa tiếp tục mở rộng thị trường ASEAN tìm kiếm thị trường mới (Myanmar, Ấn Độ, Cuba...) và đẩy mạnh tiêu thụ nội địa.

Đối với mặt hàng trái cây tươi: hiện tại khó mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước trên thế giới do trái cây chưa vượt qua được các rào cản về kỹ thuật, số lượng cung cấp không ổn định và chưa đủ sức cạnh tranh với trái cây cùng loại của các nước láng giềng như: Thái Lan, Malaysia trên thị trường thế giới. Giải pháp chủ yếu là tăng cường tiêu thụ tại thị trường nội địa; mặc khác cần khuyến khích, hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu tập trung và nhân rộng sản xuất trái cây anh toàn theo GAP để đảm bảo tiêu chuẩn và số lượng xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc, Nhật bản và EU, Mỹ đang có nhu cầu.

Giải pháp xúc tiến thương mại (XTTM) nhằm mở rộng, đa dạng các thị trường tiêu thụ: Tăng cường hoạt động XTTM tại thị trường nội địa: Tổ chức và giới thiệu các doanh nghiệp tham gia Hội chợ trong nước để tiếp thị quảng bá sản phẩm và thiết lập hệ thống đại lý tiêu thụ sản phẩm tại các tỉnh; Tổ chức hoạt động kết nối giữa doanh nghiệp Bến Tre với các nhà phân phối, hệ thống siêu thị, các doanh nghiệp tại TP.HCM và các tỉnh, thành trong cả nước. Hỗ trợ các doanh nghiệp XTTM thị trường nước ngoài: thông qua chương trình XTTM quốc gia tham gia Hội chợ nông sản, thực phẩm quốc tế tổ chức tại các thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp của Bến Tre có khả năng xuất khẩu.  Hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực điều hành, quản lý, kỹ năng đàm phán và ký kết hợp đồng; thực hiện xúc tiến thương mại; xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm; ứng dụng thương mại điện tử và công tác dự báo thông tin thị trường. Thường xuyên theo dõi nắm bắt diễn biến tình hình giá cả, thị trường dừa trong nước, ngoài nước, cung cấp thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp, người nông dân trồng dừa trong tỉnh. Đặc biệt phối họp với các ngành, địa phương theo dõi cập nhật tình hình thu mua dừa trái, thông tin giá cả, khai thông thị trường.

Đại biểu Huỳnh Văn Thanh, đơn vị huyện Mỏ Cày Bắc chất vấn Ủy ban nhân dân tỉnh về vướng mắc trong công nhận danh hiệu xã văn hóa nông thôn mới và tính hài hòa giữa 02 danh hiệu xã văn hóa nông thôn mới và xã nông thôn mới sẽ được thực hiện như thế nào.

Ủy ban nhân dân tỉnh ủy nhiệm Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và ông Trần Ngọc Tam – Phó chủ tịch UBND tỉnh giải trình nội dung này như sau: Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ vào các quy định của Trung ương và tình hình thực tế của địa phương tiến hành rà soát, điều chỉnh các quy định, hướng dẫn của tỉnh về việc xây dựng và công nhận các danh hiệu xã văn hoá, xã văn hoá nông thôn mới, xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh sao cho hài hoà, gọn nhẹ, dễ thực hiện để áp dụng thống nhất trên toàn tỉnh.

Tăng cường nâng chất các danh hiệu văn hoá đã được công nhận; hoàn thành các thủ tục đăng ký và xét công nhận danh hiệu xã văn hoá nông thôn mới; tập trung đầu tư hoàn chỉnh các tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới. Trong quá trình triển khai thực hiện, cần phát huy dân chủ cơ sở, tuyên truyền sâu rộng để cộng đồng dân cư hiểu, đồng thuận và chủ động tham gia thực hiện, tránh áp đặt, hình thức, với mục đích cuối cùng là hướng đến nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đảm bảo môi trường văn hoá an toàn, lành mạnh cho người dân.

Đại biểu Bùi Văn Chương, đơn vị huyện Chợ Lách, chất vấn Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ về nguyên nhân chậm trễ xây dựng Dự án Khu ứng dụng công nghệ sinh học Cái Mơn (tại xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) và nội dung hoạt động các hạng mục của Dự án được xây dựng trước đây.

Ông Nguyễn Văn Vưng - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ báo cáo dự án đang hoàn thành các hồ sơ thủ tục cần thiết để tiến hành khởi công công trình chậm nhất vào ngày 31/7/2014; đồng thời, tận dụng và cải tạo cơ sở vật chất hiện có để triển khai các hoạt động chuyên môn, từng bước nâng dần hiệu quả hoạt động của Khu ứng dụng công nghệ sinh học Cái Mơn.

Đại biểu Lê Văn Em, đơn vị huyện Bình Đại, chất vấn Ủy ban nhân dân tỉnh về số lượng công trình, dự án hoàn thành chưa quyết toán, tất toán, trách nhiệm thuộc về ai và đến khi nào sẽ được xử lý dứt điểm.

Được sự ủy nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, ông Lê Phi Bằng, Giám đốc Sở Tài chính trả lời: Hoàn thành việc quyết toán, tất toán 139 công trình, dự án theo Báo cáo số 187/BC-UBND ngày 09/7/2014 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc trả lời các ý kiến chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại Kỳ họp thứ 10 và báo cáo kết quả thực hiện tại Kỳ họp cuối năm 2014. Thực hiện nghiêm các chế tài xử lý vi phạm về công tác quyết toán theo chỉ đạo của Bộ Tài chính tại công văn số 5527/BTC-ĐT ngày 06/5/2013 về công tác công khai tình hình quyết toán hoàn thành năm 2012. Tập trung thực hiện các giải pháp khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh theo Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Đại biểu Trần Trung Tiến, đơn vị huyện Mỏ Cày Nam chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh về tình hình án đang tạm đình chỉ liên quan đến vấn đề đo đạc, định giá tài sản và đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh đánh giá lại kết quả thực hiện Nghị quyết 22/2013/NQ-HĐND ngày 6/12/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh.