Ban kinh tế - ngân sách giám sát ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến sản xuất và dân sinh trong mùa khô 2019-2020

Ngày đăng bài: 17/06/2020 | Tác giả: Mộng Ni

Trong tháng 5 và tháng 6 năm 2020, Ban kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh tiến hành giám sát về ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến sản xuất và dân sinh trong mùa khô năm 2019-2020 trên địa bàn tỉnh. Ban đã đi khảo sát thực tế ảnh hưởng của xâm nhập mặn đối với cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng tại huyện Chợ Lách; cây dừa tại huyện Mỏ Cày Nam; nuôi trồng thủy sản tại huyện Bình Đại; khảo sát một số đập tạm tại huyện Châu Thành. Sau khi đi khảo sát tại 04 huyện, Ban làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn và Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre.

Đoàn khảo sát vùng trồng sầu riêng tại huyện Chợ Lách (ảnh: Mộng Ni)

Đoàn giám sát do ông Nguyễn Văn Quới, Trưởng Ban kinh tế - ngân sách làm Trưởng đoàn. Tham gia Đoàn giám sát có một số thành viên của Ban kinh tế - ngân sách; đại diện của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Tài chính.

Tình hình xâm nhập mặn năm 2019-2020: Mặn xuất hiện sớm và kéo dài hơn 6 tháng, kết hợp với triều cường mạnh. Biên độ mặn 4‰ xâm nhập cách cửa Hàm Luông khoảng 86km, cách cửa Đại khoảng 85km (trên sông cửa Đại). Biên độ mặn 1‰ xâm nhập cách cửa Hàm Luông khoảng 100km, cách sông cửa Đại khoảng 95km. Đây là đợt hạn, mặn khốc liệt nhất từ trước đến nay.

Công tác chỉ đạo, điều hành phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn: Tỉnh sớm nhận biết tình hình hạn, mặn nên cả hệ thống chính trị vào cuộc dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy với tinh thần quyết tâm, quyết liệt cho công tác phòng chống hạn, mặn. Ủy ban nhân dân tỉnh có kế hoạch phòng chống hạn, mặn và xây dựng kịch bản ứng phó với nhiều cấp độ hạn, mặn trong tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Kế hoạch phòng chống hạn, mặn được triển khai đến tận cơ sở. Sử dụng nhiều kênh phối hợp tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia phòng chống hạn, mặn, huấn luyện, hướng dẫn, giới thiệu mô hình thích ứng hạn, mặn giúp cộng đồng dân cư áp dụng thích ứng mang lại hiệu quả. Công tác kiểm tra, chỉ đạo được tăng cường và xuyên suốt trong thời gian hạn, mặn. Công tác dự báo, đo độ mặn, theo dõi và thông báo diễn biến độ mặn được các ngành, các cấp thực hiện rất tốt, mọi người dân đều cập nhật kịp thời thông tin và biết được diễn biến độ mặn. Tỉnh sẵn sàng huy động cả hệ thống cấp nước, mọi phương tiện cần thiết để cấp nước đáp ứng yêu cầu sản xuất, dân sinh. Cộng đồng dân cư đồng tình, quyết tâm bằng sức người, sức của tham gia chống mặn, bảo vệ thành quả sản xuất và dân sinh.

Đoàn giám sát làm việc với các sở ngành tỉnh (ảnh: Mộng Ni)

Giải pháp phi công trình phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn: Phối hợp đồng bộ các kênh thông tin như báo, đài phát thanh – truyền hình, tuyên truyền vận động qua đoàn thể, chỉ đạo qua hội nghị, hướng dẫn qua sinh hoạt tổ nhân dân tự quản, hội thảo... chuyển tải thông tin hạn, mặn, biện pháp thích ứng và kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nuôi để bảo vệ sản xuất. Thông tin dự báo, theo dõi diễn biến độ mặn để thông báo cho Nhân dân: ở ấp có tổ tư vấn về tình hình mặn và biện pháp trữ ngọt, chăm sóc cây trồng. Qua đó giúp Nhân dân nhận thức và thực hành các biện pháp phòng chống thích ứng với hạn, mặn.

Giải pháp công trình phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn: Để phục vụ sản xuất, tỉnh sớm triển khai nạo vét lại hệ thống thủy lợi nội đồng, sửa chữa hệ thống công trình cống, đập thủy nông đưa vào vận hành phục vụ sản xuất. Nạo vét 260km kênh mương nội đồng với khối lượng 840.000 m3; sửa chữa, nâng cấp 19 công trình cống, 06 bờ bao và nhiều công trình đập tạm, ngăn mặn cục bộ; vận hành tốt hồ chứa nước Kênh Lấp; triển khai đắp 06 đập tạm khu vực Ba Tri và nhiều công trình đập tạm khác; huy động nguồn lực rất lớn sức dân để mua thuyền bơm, đắp đập tạm, tham gia chống hạn, mặn...

Huy động các hệ thống cấp nước trong tỉnh gồm của nhà nước và tư nhân, hộ gia đình... điều hòa, chia sẽ, đấu nối tạo nguồn nước để đáp ứng cho yêu cầu dân sinh, sản xuất, đảm bảo yêu cầu nước cho công nghiệp, thương mại dịch vụ, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe. Tổng huy động tiền mặt, dụng cụ chứa nước ngọt, quy đổi thành tiền hơn 100 tỷ đồng cho công tác phòng chống hạn, mặn. Đến thời điểm này, tỉnh đã vượt qua giai đoạn khắc nghiệt của hạn, mặn, đang vào giai đoạn cuối của hạn, mặn và không có người dân hay khu dân cư nào bị thiếu nước ngọt phục vụ ăn uống.

Thiệt hại do hạn, mặn: Mặc dù tỉnh đã quyết tâm, quyết liệt huy động cả sức người, sức của cho công tác phòng chống hạn, mặn. Tuy nhiên, do đợt hạn, mặn năm nay quá khốc liệt, độ mặn cao, thời gian mặn kéo dài gần hơn 6 tháng, do vậy thiệt hại kinh tế - xã hội là rất lớn.

Thiệt hại trên lĩnh vực trồng trọt (cây trồng chính): Lúa bị thiệt hại khoảng 5.200 ha do người dân tự xuống giống vụ đông xuân (không khuyến cáo trồng). Các loại cây trồng như chôm chôm, sầu riêng có diện tích cây chết và bị thiệt hại không còn khả năng hồi phục khoảng 70%, diện tích còn lại có khả năng hồi phục nhưng năng suất, chất lượng giảm đáng kể vào những năm sau. Nhóm cây có múi như chanh thiệt hại gần 100%; bưởi da xanh cây chết khoảng 30-40% diện tích, còn lại có khả năng phục hồi vào năm sau nhưng năng suất, chất lượng giảm đáng kể. Cây măng cụt tuy không chết, không bị ảnh hưởng nhưng không cho trái năm nay và năng suất, chất lượng trái sẽ giảm trong mùa trái năm sau. Diện tích cây giống, hoa kiểng bị thiệt hại nặng. Cây màu vụ xuân hè bị thiệt hại 100%.

Cây dừa: ven sông Ba Lai, Hàm Luông (huyện Giồng Trôm và Mỏ Cày Nam), nơi có độ mặn lớn hơn 12‰, dừa có hiện tượng teo đọt, thưa buồng, thưa trái. Dừa trái bị loại khỏi dừa thương phẩm khoảng 60%, dừa uống nước thì tỷ lệ này lớn hơn. Vùng còn lại ít bị ảnh hưởng hơn nhưng năng suất dừa cũng bị giảm nhiều. Cây dừa do đặc điểm sinh lý ra hoa nên năng suất còn tiếp tục giảm vào năm sau, thường 2-3 năm sau hạn, mặn thì năng suất, chất lượng mới phục hồi. Còn lại trong nhóm cây trồng là cây xoài, nhãn không thấy hiện tượng héo sinh lý.

Thiệt hại lĩnh vực chăn nuôi: Đàn vật nuôi chủ yếu bò, heo, dê; đàn gia cầm gồm gà, vịt. Hạn, mặn không gây thiệt hại nhiều cho đàn vật nuôi, chỉ ảnh hưởng giảm đàn.

Thiệt hại trên lĩnh vực thủy sản: Diện tích nuôi cá điêu hồng, cá tra và các loại cá nước ngọt khác trong dân bị thiệt hại khoảng 50%, kịp tiêu thụ khoảng 70% sản lượng, trừ trường hợp doanh nghiệp nuôi công nghiệp do không tiêu thụ kịp thì bị thiệt hại nặng. Diện tích nuôi tôm càng xanh bị thiệt hại khá lớn do thu hoạch sớm, giảm năng suất; diện tích nuôi tôm càng xanh con nhỏ chết do ảnh hưởng mặn khá nhiều. Tôm biển do ảnh hưởng mặn kéo dài, năm nay vụ tôm biển thả giống trễ, dự báo vụ nuôi tôm biển năm 2020 cũng gặp rất nhiều khó khăn.

Một số kinh nghiệm cần xem xét qua công tác phòng chống hạn, mặn: Bến Tre cần có hệ thống cảnh báo sớm hạn, mặn trong năm để có thời gian chuẩn bị và tìm giải pháp thích ứng hiệu quả hơn. Dự phòng ngân sách phải đảm bảo, công trình ngăn mặn được triển khai sớm khi dự báo có xâm nhập mặn. Ngoài ra, các dự án quản lý nước, ngọt hóa cho Bến Tre và các chương trình đầu tư cho thủy lợi cần được đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm triển khai có hiệu quả.

Từ nay đến năm 2025, Bến Tre đối mặt với mặn khá thường xuyên, nâng lên mức độ cao hơn là quản lý an ninh nguồn nước. Do vậy, cần quy hoạch, định vị hệ thống công trình ngăn mặn, trữ ngọt nhiều cấp: cấp đầu mối, nội đồng, cục bộ trong từng cánh đồng, từng hộ gia đình... với thời gian ứng phó khá dài trong năm (quý, 6 tháng).

Kết luận tại buổi làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ngành có liên quan, ông Nguyễn Văn Quới – Trưởng Đoàn giám sát kiến nghị cần thống kê, đánh giá thiệt hại cây trồng, vật nuôi do hạn, mặn; đánh giá đầy đủ báo cáo kiến nghị về Trung ương xem xét hỗ trợ cho địa phương bị thiên tai. Xem xét hỗ trợ thiệt hại do thiên tai để khôi phục phát triển sản xuất. Hướng dẫn kỹ thuật giúp nông dân chăm sóc, hồi phục cây trồng. Xem xét hỗ trợ tín dụng giúp nông dân khôi phục, tái sản xuất.

Tháo dỡ các đập tạm, thông luồng cho yêu cầu giao thông vận chuyển đường sông và giải tỏa ô nhiễm môi trường. Hỗ trợ đầu tư hạ tầng cho vùng nuôi thủy sản (điện, trục giao thông, hệ thống thủy lợi cấp – tiêu nước phục vụ nuôi). Tăng cường quản lý chất lượng vật tư, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp – thủy sản.

Đánh giá điều chỉnh kế hoạch tái cơ cấu nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực quy hoạch vùng trồng và vùng nuôi phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu. Nghiên cứu giải pháp công nghệ phù hợp để quản lý cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu./.