Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh tái cấu trúc ngành công nghiệp theo hướng gắn với nông nghiệp, phát triển chuỗi ngành hàng có giá trị gia tăng lớn

Ngày đăng bài: 19/05/2020 | Tác giả: Mộng Ni

Thực hiện chương trình giám sát hàng năm, tháng 3 năm 2020, Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát về việc thực hiện Nghị quyết số 14/2016/NQ-HĐND ngày 03 tháng 8 năm 2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, trên lĩnh vực phát triển công nghiệp. Đoàn giám sát đã tiến hành giám sát việc quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh; khảo sát khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp, cụm công nghiệp Phong Nẫm và thị trấn – An Đức; làm việc với Ban Quản lý các khu công nghiệp, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân tỉnh.

Đoàn giám sát do ông Huỳnh Quang Triệu, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh làm Trưởng Đoàn giám sát; tham gia Đoàn giám sát có một số đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh.

Đoàn giám sát làm việc với Ban Quản lý các khu công nghiệp (ảnh: Vĩnh Hạ)

Để thực hiện Nghị quyết số 14/2016/NQ-HĐND, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1896/QĐ-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2016 ban hành Đề án phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020 và hướng tới năm 2030 (sau đây gọi là Đề án). Đề án này được triển khai đến sở ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố, cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề và phổ biến rộng rãi ra dân để thực hiện.

Kết quả thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp giai đoạn 2016-2020: Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng từ 20.944 tỷ đồng (năm 2016) lên 30.600 tỷ đồng (năm 2019); tốc độ tăng trưởng bình quân công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2016-2019 là 12,16%/năm nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu Đề án 2,34%/năm (Đề án là 14,5%/năm); giá trị tăng thêm ngành công nghiệp là 9,77%/năm, thấp so chỉ tiêu Đề án 4,03%/năm (Đề án là 13,8%/năm); kim ngạch xuất khẩu đạt 3.952 triệu USD, bằng 72,5% so với mục tiêu Đề án (Đề án 5.485 triệu USD). Công nghiệp có tăng trưởng nhưng chất lượng tăng trưởng không cao do tỷ trọng sản xuất, gia công hàng xuất khẩu lớn chiếm 78%.

Trong giai đoạn 2016-2019 tiếp tục kêu gọi đầu tư lắp đầy 02 khu công nghiệp (Giao Long, An Hiệp), mở rộng kêu gọi đầu tư vào cụm công nghiệp Long Phước và các cụm công nghiệp khác ở địa phương đã góp phần vào sự phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút lao động, ổn định giải quyết việc làm, tăng thu nhập dân cư.

Tập trung huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng công nghiệp theo quy hoạch đáp ứng mục tiêu tăng trưởng đến năm 2020 và những năm tiếp theo: Tổng huy động vốn đầu tư cho khu, cụm công nghiệp 2.925 tỷ đồng, trong đó ngân sách 102 tỷ đồng, còn lại là của doanh nghiệp. Ngân sách chỉ hỗ trợ xây dựng giao thông, chi phí quy hoạch, chi phí lập phương án đền bù giải phóng mặt bằng, phần còn lại do doanh nghiệp tạm ứng đầu tư cho công tác đền bù giải phóng mặt bằng tại các cụm công nghiệp.

Tái cơ cấu các ngành công nghiệp, tăng dần giá trị chuỗi sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh: Cơ cấu ngành nghề kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp thực hiện đúng theo mục tiêu Đề án: ngành công nghiệp chế biến chiếm ưu thế, chiếm tỷ trọng 53%; nhóm hàng cơ khí, điện tử, chế tạo chiếm tỷ trọng 21%; nhóm hàng dệt may, da – giày chiếm tỷ trọng 22% và nhóm ngành công nghiệp sản xuất hóa chất, hoá dược chiếm tỷ trọng 4%. Tỉnh đang triển khai xây dựng hạ tầng 02/12 dự án điện gió với tổng công suất 80MW/1.863MW theo quy hoạch.

Vai trò khoa học và công nghệ trong phát triển sản xuất công nghiệp: Khoa học công nghệ đóng góp khoảng 20% vào giá trị tăng trưởng hàng năm của tỉnh (tốc độ đổi mới công nghệ đạt 20%/năm, giá trị sản phẩm công nghệ cao khoảng 30%/tổng sản phẩm; sản phẩm dịch vụ khoa học công nghệ tăng 20%/năm và chiếm 6,2% trên tổng GRDP của tỉnh). Nhìn chung, mặt bằng trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp của tỉnh ở mức trung bình thấp; tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm, hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm không cao, thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển trên địa bàn tỉnh. Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm hạn chế tốc độ tăng trưởng, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất công nghiệp của tỉnh.

Phát triển doanh nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từng bước đáp ứng yêu cầu định hướng phát triển công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế: Tốc độ phát triển doanh nghiệp đạt khá, giai đoạn 2016-2019 phát triển 1.720 doanh nghiệp, lũy kế đến tháng 3 năm 2020 toàn tỉnh có 4.616 doanh nghiệp với vốn đăng ký là 40.391 tỷ đồng. Hiện tại còn 3.591 doanh nghiệp đang hoạt động với vốn đăng ký là 36.210 tỷ đồng.

Lực lượng lao động toàn tỉnh có 808.543 người, trong đó khu vực công nghiệp là 184.671 lao động, chiếm 22,84% tổng lao động xã hội. Nguồn lực lao động dồi dào, trẻ, kỹ năng, tay nghề đáp ứng được yêu cầu công việc, có khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới, công tác đào tạo nghề được quan tâm, chất lượng tay nghề của lực lượng lao động ngày càng tốt hơn.

Ông Châu Văn Bình, Giám đốc Sở Công Thương giải trình một số vấn đề Đoàn giám sát đặt ra (ảnh: Vĩnh Hạ)

Giải pháp về đất đai và công tác bảo vệ môi trường trong sản xuất công nghiệp: Để đáp ứng yêu cầu kêu gọi đầu tư vào sản xuất trong khu, cụm công nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí vốn ngân sách, huy động vốn doanh nghiệp để xây dựng hạ tầng và đền bù giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất cho đầu tư sản xuất. Đã đền bù giải phóng mặt bằng và thu hồi đất cho sản xuất được 236,34ha. Trong 02 khu công nghiệp chỉ có khu công nghiệp Giao Long có hệ thống xử lý môi trường và có trạm quan trắc tự động cho toàn khu, hầu hết dự án sản xuất trong khu công nghiệp Giao Long chấp hành tốt công tác quản lý môi trường. Các dự án sản xuất trong khu công nghiệp An Hiệp, các cụm công nghiệp chưa thực hiện xử lý nước thải đạt chuẩn và quan trắc môi trường. Thực tế, trong thời gian qua, việc quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh hoàn toàn trên cơ sở đất của người dân đang sử dụng hợp pháp, tỉnh không có quỹ đất sạch để kêu gọi đầu tư.

Phát triển vùng nguyên liệu: Vùng nguyên liệu của tỉnh có đặc điểm là cho sản lượng lớn, sản phẩm đặc sản có giá trị kinh tế cao, chế biến thực phẩm được thị trường thế giới ưa chuộng, tạo lợi thế lớn cho công nghiệp chế biến của tỉnh và sản phẩm hàng hóa xuất khẩu của tỉnh trên thị trường trong và ngoài nước.

Đoàn giám sát đánh giá về kết quả thực hiện quy hoạch, phát triển công nghiệp giai đoạn 2016- 2020 đạt được một số thành tựu như Ủy ban nhân dân tỉnh lập, phê duyệt quy hoạch 08 khu công nghiệp và 12 cụm công nghiệp với tổng diện tích đất công nghiệp 1.727 ha, mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành đầu tư khai thác khu công nghiệp Phú Thuận và 04 cụm công nghiệp: Phong Nẫm, thị trấn - An Đức, Long Phước và Tân Thành Bình. Tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng cho khu, cụm công nghiệp. Trong kỳ đã đầu tư gần 2.925 tỷ đồng, trong đó ngân sách 102 tỷ đồng, còn lại doanh nghiệp đầu tư dưới dạng ứng vốn giải phóng mặt bằng để đầu tư vào các cụm công nghiệp. Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2016-2019 góp phần tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tích cực, có ý nghĩa rất lớn trong việc thu hút lao động, ổn định giải quyết việc làm, tăng thu nhập dân cư.

Bên cạnh những thành tựu, vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như: Tuy quy hoạch nhiều khu, cụm công nghiệp nhưng thực hiện không đạt mục tiêu phát triển; thiếu quỹ đất sạch cho kêu gọi đầu tư; đầu tư xây dựng hạ tầng cho sản xuất công nghiệp và tiến độ khai thác lắp đầy khu, cụm công nghiệp không đạt chỉ tiêu đề ra; hạ tầng phục vụ cho các khu, cụm công nghiệp như nhà ở công nhân, nhà trẻ, trạm y tế, đường giao thông, công viên, công trình phục vụ vui chơi giải trí v.v... còn thiếu và chưa đồng bộ; hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề gặp nhiều khó khăn; giá trị mới của công nghiệp được tạo ra do đầu tư mới vào khu, cụm công nghiệp ở giai đoạn này không lớn. Khu vực II trong giai đoạn 2016-2019 không có sự chuyển dịch (xem xét trong cơ cấu kinh tế). Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2016-2019 có tăng trưởng nhưng chất lượng tăng trưởng không cao, công nghiệp có tính thâm dụng đất đai, lao động, tỷ trọng gia công lớn, công nghệ lạc hậu, giá trị tăng thêm thấp.

Nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và phát triển bền vững, Đoàn giám sát kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh một số nội dung:

Tổng kết 05 năm thực hiện Đề án phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020 và hướng tới năm 2030; qua đó rà soát điều chỉnh mục tiêu quy hoạch, quy mô phát triển, tái cấu trúc ngành công nghiệp theo hướng gắn với nông nghiệp phát triển chuỗi ngành hàng có giá trị gia tăng lớn cho tỉnh.

Có giải pháp tạo quỹ đất sạch để kêu gọi đầu tư, huy động tổng lực các nguồn vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng sớm khai thác khu công nghiệp Phú Thuận, tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng trong, ngoài khu công nghiệp Giao Long và An Hiệp, phân kỳ bố trí vốn ngân sách hỗ trợ cho các huyện, thành phố đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các cụm công nghiệp.

Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng cơ bản cho công nghiệp: điện, nước, giao thông, viễn thông đảm bảo phục vụ tốt cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ sản xuất; khu công nghiệp khi đưa vào khai thác phải đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường; hỗ trợ cho các cụm công nghiệp địa phương xây dựng hệ thống xử lý môi trường và đánh giá tác động môi trường toàn cụm./.

Các tin khác