Cần có giải pháp khắc phục những tồn tại và hạn chế trong quản lý nhà nước về xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh

Ngày đăng bài: 25/07/2019 | Tác giả: Trần Nhựt

Để đánh giá hiện trạng phát triển đô thị; việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh, Ban kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh đã tổ chức Đoàn khảo sát thực tế hiện trạng đô thị một số huyện, thành phố và giám sát đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: Bình Đại, Ba Tri, Mỏ Cày Nam, thành phố Bến Tre và có buổi làm việc với Sở Xây dựng; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Giao thông vận tải và Sở Tài chính.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 17 đô thị gồm 01 đô thị loại II (thành phố Bến Tre), 02 đô thị loại IV (thị trấn Bình Đại và thị trấn Ba Tri) và 14 đô thị loại V (thị trấn Mỏ Cày Nam; thị trấn Chợ Lách; thị trấn Châu Thành; thị trấn Thạnh Phú; thị trấn Giồng Trôm; xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày Bắc; xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành; xã Hương Mỹ, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam; xã An Thủy, xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri; xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách; xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm; xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại). Đây là thành tựu lớn nhất và cơ bản nhất đạt được là nhờ sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị và nhân dân toàn tỉnh dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy.

Đến năm 2020, tiếp tục phấn đấu xây dựng thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam đạt chuẩn đô thị loại IV; xây dựng 05 trung tâm xã đạt chuẩn đô thị loại V gồm Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày Bắc; Tân Thạch và Giao Long, huyện Châu Thành; Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú; Tân Xuân, huyện Ba Tri. Bên cạnh đó, Thành phố Bến Tre và các đô thị thị trấn huyện lỵ gồm Bình Đại, Ba Tri, Châu Thành đã ban hành quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị, các địa phương còn lại đang thực hiện, dự kiến hoàn thành trong năm 2020.

Trên cơ sở quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đến năm 2020 và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, quy hoạch chung của thành phố Bến Tre đến năm 2030 có quy mô diện tích là 2.780 ha, dân số là 280.000 người và 06 phân khu đô thị. Trên địa bàn thành phố Bến Tre có 42 đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết đã được lập, trong đó, có 21 đồ án tỷ lệ 1/2000 và 21 đồ án tỷ lệ 1/500, tỷ lệ phủ kín quy hoạch so với quy hoạch chung của thành phố Bến Tre đến năm 2030 đạt trên 80%. Hầu hết các huyện được khảo sát cũng đều có lập quy hoạch chung, quy hoạch phân khu được cấp có thẩm quyền phê quyệt. Nhìn chung, công tác lập quy hoạch trên địa bàn tỉnh được triển khai thực hiện khá đồng bộ theo quy định pháp luật và phù hợp thực tế, tạo điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư phát triển đô thị.

Tổng nguồn vốn huy động đầu tư cho xây dựng và phát triển đô thị hàng năm đạt mức khá. Riêng từ nguồn ngân sách tỉnh giai đoạn 2016-2019 bổ sung cho các huyện, thành phố để lập quy hoạch là 29,3 tỷ đồng; hàng năm cấp bổ sung cho xây dựng đô thị loại III là 12,7 tỷ đồng, đô thị loại IV là 8,5 tỷ đồng và đô thị loại V là 5 tỷ đồng. Nguồn vốn vận động trong dân chủ yếu để xây dựng các công trình chiếu sáng, hệ thống thoát nước, nâng cấp mở rộng hẻm đô thị và công trình môi trường (trong khu vực hẻm, khu phố nhỏ). Ngoài ra, các địa phương còn kêu gọi doanh nghiệp đầu tư xây dựng, chỉnh trang phát triển đô thị, hiện tại trên địa bàn tỉnh có khoảng 14 dự án phát triển khu đô thị, chỉnh trang phát triển đô thị đã và đang thực  hiện, trong đó có 07 dự án trong giai đoạn khảo sát, chuẩn bị đầu tư. Qua đó cho thấy, tính xã hội hóa đầu tư cho đô thị ngày càng cao, góp phần quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Tỉnh ủy Bến Tre về “Đẩy mạnh phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” và Kết luận số 40-KL/TU của Tỉnh ủy về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TU của Tỉnh ủy về “Đẩy mạnh phát triển đô thị tỉnh Bến Tre đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”.

Các địa phương có sự quan tâm và tập trung chỉ đạo thường xuyên trong công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị, cụ thể: đã triển khai thực hiện Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 21 tháng 04 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành quy định về chiều rộng lộ giới và chỉ giới xây dựng công trình dọc theo các tuyến đường thuộc đô thị thành phố Bến Tre; Quyết định số 40/2015/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre được đại bộ phận nhân dân và nhà đầu tư đồng tình thực hiện, góp phần ổn định trật tự trong quản lý xây dựng và phát triển đô thị.

Nhiều công trình thương mại, dịch vụ, trụ sở, cơ quan, trường học, y tế và những công trình kiến trúc hạ tầng kinh tế - xã hội khác được đầu tư xây dựng tạo điểm nhấn tốt cho cảnh quan đô thị. Nhiều khu vực đảm bảo được mật độ xây dựng, độ cao xây dựng, chỉ giới xây dựng, vỉa hè, hành lang góp phần làm cho không gian đô thị được thông thoáng và nét mỹ quan đô thị thêm khởi sắc hơn.

Tập trung đầu tư, nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các trục giao thông chính, cầu giao thông trong thành phố; hạ tầng được kết nối khá đồng bộ tạo thuận lợi cho đầu tư phát triển đô thị như: Đại lộ Đồng Khởi, đường 3 tháng 2, đường Đồng Văn Cống, đường Nguyễn Thị Định, đường Võ Nguyên Giáp, đường Nguyễn Văn Tư, đường Phạm Ngọc Thảo,.. Việc đầu tư nâng cấp, mở rộng hẻm thành đường cũng được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong khu vực nội thị như: hẻm Kênh Nổi, hẻm Hoa Nam, hẻm Quảng Bạch, hẻm sau siêu thị Co.op Mart,…Tuyến đường tránh thị trấn và các hẻm nội ô ở các huyện cũng được đầu tư nâng cấp tạo sự thông thoáng cho không gian đô thị trong nội ô.

Đoàn khảo sát một đoạn đường hẻm trên địa bàn thành phố Bến Tre (ảnh Minh Triết)

Nguồn điện cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của người dân; hệ thống lưới điện trung, hạ thế được đầu tư nâng cấp, sửa chữa thường xuyên. Hệ thống thông tin liên lạc phát triển mạnh và hiện đại, đặc biệt là mạng internet đã cung cấp thông tin  nhanh chóng và kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trong nhân dân. Ở các đô thị của thành phố và các huyện, rác thải được thu gom về bãi tập trung; mảng cây xanh đô thị được trồng, chăm sóc thường xuyên tạo được vẽ  mỹ quan và môi trường đô thị trong lành, xanh sạch hơn; nghĩa trang thành phố được đầu tư mở rộng để giải quyết nhu cầu mai táng trong đô thị.

Bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số tồn tại, hạn chế: Hầu hết các huyện có lập quy hoạch tổng thể, chi tiết cho phát triển đô thị nhưng chậm điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị hiện tại. Tuy có lập quy hoạch nhưng thiếu tính dự báo, tầm nhìn hạn chế, chưa dự báo được xu thế phát triển giữa nội tại với khu vực, liên vùng; nên trong diễn trình phát triển kinh tế - xã hội quy hoạch bị lạc hậu, phải điều chỉnh nhiều lần. Công tác quản lý quy hoạch đô thị chưa tốt, cụ thể như: việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất; phân lô, tách thửa đất, xây dựng khu dân cư tự phát không đúng qui định pháp luật (vì động cơ đầu cơ đất) dẫn đến phá vỡ quy hoạch xây dựng, không gian cảnh quan kiến trúc đô thị và phát sinh nhiều hệ lụy khác như: ô nhiễm môi trường; sốt giá đất; phòng cháy chữa cháy không đảm bảo an toàn.

Nguồn lực đầu tư từ ngân sách cho công tác quản lý, phát triển đô thị còn rất nhiều khó khăn, thiếu tính chủ đạo trong đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch; nguồn vốn huy động trong Nhân dân để xây dựng khu phố văn minh cũng còn hạn chế; tiến độ xây dựng phát triển đô thị chậm.

Ở nhiều trục giao thông, hẻm trong thành phố, nội thị ở các huyện còn tồn tại trường hợp xây nhà ở, công trình kiến trúc trên đất vi phạm lộ giới, chỉ giới xây dựng (tường rào, mái che dẫn vào nhà, mái che tầng cao, nhà ở…). Nhiều hẻm trong đô thị của thành phố, đường nội thị ở các huyện không quản lý được cốt xây dựng, còn xảy ra tình trạng xây nền nhà ở cao hơn so với mặt đường, hẻm; đồng thời, nhà ở được xây sát nhau, không có hệ thống thu gom nước thải và nước mưa nên xảy ra tình trạng đường bị ngập nước vào mùa mưa gây ô nhiễm môi trường. Tại nhiều huyện, cảnh quan nội ô còn lụp xụp, đường nội thị không có vỉa hè hoặc bị lấn chiếm; các khu thương mại, chợ truyền thống bị xuống cấp làm cảnh quan đô thị tối tăm. Nhiều khu dân cư trong thành phố như: khu Mỹ Hóa, phường 7; khu dân cư phường 8; phường Phú Khương; xã Phú Hưng,…nhiều khu nhà ở “ọp ẹp”, hệ thống rãnh thoát nước bị lấn chiếm, san lấp gây tắc nghẽn, tù đọng nước dẫn đến ô nhiễm môi trường. Tại nhiều khu nhà ở đô thị hình thành tự phát, xây dựng không theo quy định thiết kế nào cả; nhiều khu đất phân lô, bán nền còn bỏ hoang hóa, gây lãng phí trong sử dụng đất.

Hệ thống đường hẻm trong đô thị ở nhiều khu vực chưa đấu nối tốt với các trục giao thông chính trong đô thị nên còn nhiều ách tắt, quanh co, nhỏ hẹp; nhiều khu dân cư còn bị cô lập. Tỷ lệ đất giao thông đô thị so với đất xây dựng đô thị và mật độ đường nội thị còn thấp so với yêu cầu của phát triển đô thị. Nhiều trục giao thông trong đô thị không có hệ thống thu gom nước nên nhiều khu dân cư trong thành phố và thị trấn các huyện bị ngập nước vào mùa mưa. Hệ thống cáp điện, viễn thông còn khá chằng chịt, nhất là ở trong các khu hẻm thành phố và nội ô các huyện làm mất vẽ mỹ quan đô thị; nhiều hẻm, khu dân cư trong hẻm, khu chợ truyền thống bị ách tắc giao thông, công tác phòng cháy chữa cháy yếu kém nên còn tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ, mất an toàn trong khu dân cư.

Bãi rác của thành phố Bến Tre và các huyện đang trong tình trạng quá tải, lộ thiên; chất thải rắn chưa được thu gom xử lý theo đúng quy định gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; trong đô thị thành phố và các huyện, nước thải sinh hoạt chưa được thu gom xử lý còn xả thải trực tiếp ra môi trường. Mảng cây xanh đô thị đạt mật độ chung nhưng phân bố không đều trong không gian đô thị, nhất là ở khu đô thị các huyện.

Mặc dù, nghĩa trang thành phố được đầu tư mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu mai táng của thành phố; tuy nhiên, với hình thức địa táng truyền thống thì về lâu dài thành phố cũng không đủ quỹ đất để đáp ứng nhu cầu; mặc khác, vị trí nghĩa trang thành phố vi phạm quy định về khoảng cách an toàn môi trường. Tại các huyện không có nghĩa trang nhân dân cho đô thị, theo truyền thống thực hiện địa táng theo thổ canh, thổ cư và thổ mộ dòng tộc.

Trên địa bàn tỉnh có 145 dự án, tổng diện tích 477.449 m2 (khoảng 47,74 ha), tổng số thửa (tự tách) là 3.520 thửa. Trong đó có 02 nhóm dự án: Một là phù hợp quy hoạch và mật độ xây dựng nhà ở khu đô thị nhưng vi phạm quy định Luật đất đai và Luật xây dựng; Hai là không nằm trong quy hoạch đô thị thuộc vùng sản xuất nông nghiệp thì vi phạm quy hoạch, vi phạm pháp luật đất đai và luật xây dựng. Hầu hết các dự án do tổ chức, cá nhân thực hiện tự phát, không xin phép cơ quan có thẩm quyền, tự chuyển mục đích sử dụng đất, tự ý xây dựng dự án khu dân cư đô thị. Hạ tầng khu dân cư đô thị tự phát chưa được kết nối với hệ thống hạ tầng đô thị; chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc phân lô, bán nền tự phát vì mục đích đầu cơ đất đai, không vì mục tiêu xây dựng phát triển đô thị đã tạo nhiều hệ lụy như: gây sốt giá đất, phá vỡ quy hoạch đô thị, ô nhiễm môi trường.

Nguyên nhân chủ yếu là do quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng đô thị và quản lý đất đai còn nhiều yếu kém; nhận thức bộ phận dân cư về xây dựng, phát triển đô thị chưa tốt, chưa chấp hành tốt về quy định pháp luật trong xây dựng phát triển đô thị; ngân sách đầu tư xây dựng phát triển đô thị còn rất khó khăn, huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho xây dựng phát triển đô thị còn rất hạn chế.

Ông Nguyễn Văn Quới, Trưởng Ban kinh tế - ngân sách, Trưởng đoàn giám sát kết luận tại buổi làm việc với các Sở ngành có liên quan (ảnh Trần Nhựt)

Qua giám sát, Ban kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh kiến nghị đối với một số ngành chức năng như sau:

Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh: Kiểm tra, đôn đốc các ngành chức năng, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố về việc thực hiện công văn 132/UBND-TCĐT ngày 09 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tăng cường quản lý việc tách thửa đối với các loại đất để phân lô, bán nền, xây nhà không phép trên địa bàn tỉnh và chỉ đạo, kiểm tra trách nhiệm công vụ của các ngành, các cấp trong việc quản lý quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị. Xem xét phân bổ kinh phí hợp lý cho yêu cầu xây dựng và phát triển đô thị, tăng cường xã hội hóa trong đầu tư phát triển đô thi đúng theo quy định pháp luật.

Đối với Sở Xây dựng: Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể, quy hoạch phân khu, chi tiết về phát triển đô thi trên địa bàn tỉnh, thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấn chỉnh công tác quy hoạch xây dựng, quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt; Quản lý, sử dụng đất để phát triển đô thị theo đúng quy định pháp luật; Lập Chương trình phát triển đô thị cấp tỉnh, Chương trình phát triển đô thị từng đô thị, khu vực phát triển đô thị và ban quản lý dự án phát triển đô thị theo quy định. Tăng cường quản lý việc xây dựng nhà ở và phát triển khu dân cư đô thị đúng quY định pháp luật, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nhà máy xử lý rác Bến Tre; có giải pháp cấp bách xử lý và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác các huyện và thành phố. Đối với các công trình, dự án khu dân cư đô thị do các nhà đầu tư thực hiện tăng cường quản lý, rà soát, kiểm tra các hạng mục xây dựng hạ tầng xã hội trong vùng dự án phải đảm đúng thiết kế và tiến độ xây dựng đúng theo cam kết của nhà đầu tư, đảm bảo kết nối hạ tầng đô thị và khai thác, sử dụng dự án có hiệu quả.

Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối họp với Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai, kiểm tra và xử phạt nghiêm hành vi vi phạm về quản lý sử dụng đất theo quy định pháp luật hiện hành, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện tốt công tác thu gom xử lý chất thải rắn, rác thải nhựa và thu gom, xử lý nước thải đô thị theo đúng quy định pháp luật.

Đối với Ủy ban nhân dân huyện, thành phố: Quản lý chặt chẽ, quyết tâm khôi phục lại hệ thống kênh, rạch thoát nước trong đô thị trên địa bàn các huyện, thành phố Bến Tre; giải tỏa ô nhiễm môi trường các khu dân cư: phường 7, phường 8,… và nhiều khu vực khác; đồng thời, có hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn; phân loại xử lý rác thải, xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường trên địa bàn. Có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời tình trạng chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xây dựng nhà ở, xây dựng khu dân cư đô thị sai quy định pháp luật. Ban hành quy trình quản lý xây dựng khu nhà ở đô thị theo quy mô nhỏ (dưới 05 ha) nhằm đảm bảo xây dựng khu đô thị đúng theo quy định pháp luật và đúng định hướng xây dựng phát triển đô thị văn minh hiện đại; tiếp tục thực hiện nghiêm các nội dung của Công văn số 132/UBND-TCĐT ngày 09 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tăng cường quản lý việc tách thửa đối với các loại đất để phân lô, bán nền, xây nhà không phép trên địa bàn tỉnh. Trong điều kiện không có quỹ đất cho nhu cầu địa táng thành phố Bến Tre nên kêu gọi đầu tư phát triển công viên nghĩa trang và cải táng bằng phương thức hỏa táng để giải quyết nhu cầu mai táng trong đô thị theo hướng xã hội hóa./.