Năm 2017, Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh đã hoàn thành được 07 nội dung giám sát

Ngày đăng bài: 23/11/2017 | Tác giả: Nguyễn Lâm

Giám sát là một trong những nhiệm vụ chính mà các Ban của Hội đồng nhân dân phải đặt ra và thực hiện xuyên suốt trong năm. Yêu cầu của giám sát không nhất thiết là số lượng mà là việc tìm ra những khó khăn, vướng mắc, đưa ra hướng giải quyết của một vấn đề, giúp cơ quan chuyên môn nhà nước hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Mặt khác, giám sát còn thúc đẩy các cơ quan chức năng nhận ra những hạn chế, khuyết điểm, thấy được những vấn đề còn bỏ ngõ để có biện pháp khắc phục kịp thời, từng lúc nâng cao nền hành chính nhà nước.

Trong năm 2017, với vai trò là một cơ quan của HĐND tỉnh, Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh (gọi tắt là Ban) được giao nhiệm vụ theo dõi tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh (lĩnh vực văn hóa – xã hội). Ban đã xây dựng 07 nội dung giám sát (trong đó có 02 nội dung theo yêu cầu của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng – Quốc hội khóa XIV). Cụ thể:

Một số thành viên Ban khảo sát Sân vận động tỉnh trong nội dung giám sát việc thực hiện Luật Thể dục, thể thao trên địa bàn tỉnh Bến Tre (ảnh: Nguyễn Lâm)

Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2010 – 2016.

Qua giám sát, Ban nhận thấy một số chế độ, chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa phù hợp với thực tế, thiếu thống nhất, chưa đồng bộ, chưa đảm bảo tính kịp thời như: có sự khác nhau về chế độ, chính sách giữa giáo viên dạy giáo dục thường xuyên và giáo viên dạy nghề tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên, giữa giáo viên dạy các môn văn hóa với giáo viên, huấn luyện viên dạy môn năng khiếu tại Trường Năng khiếu thể dục thể thao; phụ cấp chức vụ lãnh đạo giữa các hạng trường có sự chênh lệch khá lớn trong khi công việc tương đương nhau; nhân viên làm công tác Y tế, Kế toán, Thư viện tại các trường học không được hưởng phụ cấp nhà giáo cũng như phụ cấp công vụ nên mức lương rất thấp, giáo viên giảng dạy khi điều động về các phòng chức năng thì không được bảo lưu phụ cấp thâm niên nhà giáo.v.v..

Ban đã kiến nghị Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ: nâng phụ cấp chức vụ lãnh đạo tại các trường hạng III; xem xét bảo lưu thâm niên nhà giáo, nghiên cứu chế độ, chính sách cho nhân viên làm công tác Y tế, Kế toán, Thư viện tại các trường học; đề xuất mức xếp lương cho giáo viên có trình độ trên chuẩn mới được tuyển dụng; đề nghị sớm ban hành Thông tư hướng dẫn tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với giáo viên dạy nghề,.v.v..

Giám sát tình hình thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi người có công đối với cách mạng.

Qua giám sát, Ban nhận thấy: Công tác triển khai một số văn bản thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi người có công đối với cách mạng từ cấp tỉnh đến cơ sở trong một số trường hợp còn chưa thông suốt; vẫn còn địa phương thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý nên để xảy ra tiêu cực, vi phạm trong công tác chi trả, thanh quyết toán hàng tháng; còn rất nhiều trường hợp người tham gia cách mạng bị thất lạc giấy tờ gốc, không còn người thân hoặc gia đình đi làm ăn xa, thay đổi chỗ ở… gây khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc xét công nhận hồ sơ người có công, gây thiệt thòi về quyền lợi của bản thân người có công và gia đình; việc thực hiện một số chế độ trợ cấp ưu đãi người có công không còn phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay, Ban đã kiến nghị:

- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tăng mức trợ cấp một lần cho người có công được tặng thưởng huy chương kháng chiến; mở rộng đối tượng được hưởng chế độ điều dưỡng người có công với cách mạng.

- Sở Lao động – Thương binh và Xã hội giải quyết tốt hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận người có công; tăng cường tập huấn, thực hiện tốt công tác chi trả trợ cấp cho người có công; tham mưu UBND tỉnh xây dựng Quy chế quản lý nghĩa trang thống nhất trên địa bàn tỉnh.

- UBND các huyện, thành phố nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, công tác quản lý và chi trả trợ cấp, đồng thời đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn tiêu cực trong thực hiện các chế độ, chính sách đối với người có công trên địa bàn; chỉ đạo UBND các xã thực hiện đúng chế độ ưu tiên trong việc xét đề nghị hỗ trợ xây dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở cho gia đình chính sách.

Giám sát tình hình thực hiện các khoản thu và việc đầu tư, sử dụng trang thiết bị dạy học năm học 2016 – 2017 trên địa bàn tỉnh.

Học sinh Trường Mẫu giáo Vĩnh Hòa, huyện Ba Tri trong giờ học (ảnh: Nguyễn Lâm)

Qua giám sát, Ban nhận thấy: cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập tại một số trường đang bị xuống cấp, hư hỏng. Các trang thiết bị đồ dùng dạy được trang cấp từ lâu nên độ chính xác không cao và một số thiết bị không còn phù hợp với nội dung chương trình sách giáo khoa mới. Nguồn kinh phí chi cho sự nghiệp giáo dục được áp dụng ổn định giai đoạn 2017 – 2020, gây khó khăn cho ngành giáo dục trong chi hoạt động, trong đó có mua sắm, sữa chữa trang thiết bị. Việc hướng dẫn và tổ chức mua sắm, sửa chữa trang thiết bị dạy học giữa các huyện, thành phố chưa thống nhất. Sự phối hợp giữa Phòng Giáo dục và Đào tạo với Phòng Tài chính – Kế hoạch chưa chặt chẽ, còn đùn đẩy trách nhiệm, gây khó khăn cho các trường trong việc mua sắm, sửa chữa trang thiết bị dạy học.

Ban kiến nghị: UBND tỉnh hàng năm khi cân đối ngân sách địa phương phải dành một khoản kinh phí để hỗ trợ ngành giáo dục kịp thời đầu tư, sửa chữa các hạng mục xuống cấp; Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các cơ quan chức năng tháo gỡ kịp thời những khó khăn, đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn được phân cấp năm 2017 và những năm tiếp theo; Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu UBND tỉnh cân đối thêm nguồn ngân sách để đầu tư sửa chữa cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học cho ngành giáo dục; Sở Tài chính phối hợp thực hiện tốt các hoạt động mua sắm, sửa chữa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thành phố chỉ đạo, hướng dẫn các trường trực thuộc thực hiện thanh lý tài sản theo quy định; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình hoạt động tại các trường, đảm bảo duy trì tốt các hoạt động thu – chi.

Giám sát việc thực hiện Luật Thể dục, thể thao (TDTT) trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Qua giám sát, Ban nhận thấy: Một số nội dung được quy định trong Luật TDTT nhưng tỉnh chưa thể hoặc không thể triển khai thực hiện được do thiếu nguồn lực. Sân bãi phục vụ nhu cầu tập luyện TDTT còn thiếu, một số địa phương lấy đất TDTT sử dụng vào mục đích khác mà không hoàn trả lại. Còn bộ phận lớn người dân, nhất là giới trẻ chưa coi trọng việc tập luyện TDTT, chưa có thói quen tập luyện TDTT thường xuyên. Công tác xã hội hóa còn gặp nhiều khó khăn, chính sách khuyến khích xã hội hóa được hình thành nhưng còn thiếu giải pháp thiết thực. Việc hưởng thụ các quyền lợi về TDTT của người dân trên toàn tỉnh chưa đồng đều. Thể thao cho người khuyết tật chưa được quan tâm đúng mức. Thể thao thành tích cao ngày càng giảm sút, nguy cơ tụt hạng rõ nét trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng như cấp quốc gia; Ban kiến nghị:

- Chính phủ và các bộ, ngành liên quan ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi (về nhà ở, nghề nghiệp) cho các vận động viên có thành tích cao đã cống hiến cho quốc gia khi hết tuổi thi đấu; hướng dẫn thực hiện Nghị định 106/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh hoạt động thể thao; hướng dẫn khoản 4, Điều 61 của Luật TDTT về ban hành chương trình học văn hóa riêng cho Trường Năng khiếu thể dục thể thao; hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích xã hội hóa TDTT.

- UBND tỉnh chấn chỉnh và thực hiện đúng quy hoạch quỹ đất dành cho TDTT; tăng cường công tác quản lý nhà nước về TDTT, quản lý, bảo quản và khai thác tốt các công trình TDTT hiện có; khuyến khích xã hội hóa hoạt động TDTT; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để tạo cơ chế thông thoáng, tạo quỹ đất sạch phục vụ nhà đầu tư phát triển cơ sở thể thao tư nhân; quan tâm phân bổ kinh phí hàng năm để thực hiện Đề án phát triển Thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013 – 2020.

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hỗ trợ Trường năng khiếu TDTT sửa chữa cơ sở vật chất khu ký túc xá đang xuống cấp; chú trọng TDTT cho người khuyết tật.

Giám sát việc thực hiện Luật Bình đẳng giới và kết quả thực hiện chương trình quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Qua giám sát, Ban nhận thấy: Công tác tuyên truyền có tập trung nhưng chưa sâu rộng, Hội phụ nữ là lực lượng chủ yếu tham gia công tác tuyên truyền. Các thành viên Ban vì sự tiến bộ phụ nữ huyện chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm nên hoạt động còn hạn chế, chưa chủ động trong phối hợp thực hiện theo quy chế hoạt động của Ban. Đặc biệt, nguồn kinh phí dành cho hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ rất ít, chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động (huyện Mỏ Cày Bắc từ 10 – 15 triệu đồng/năm; huyện Chợ Lách từ 6- 7 triệu đồng/năm).

Ban kiến nghị: Các địa phương cần xác định công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, không phải nhiệm vụ riêng của Hội phụ nữ hay Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; các địa phương cần tiếp tục tham mưu cho cấp ủy quan tâm xây dựng quy hoạch cán bộ nữ, tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ cấp xã vì hiện các xã có nguồn cán bộ nữ, trẻ, có trình độ khá nhiều; các ngành cần tiếp tục phối hợp tuyên truyền sâu rộng Luật Bình đẳng giới để nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị và nhân dân; củng cố, nâng cao vai trò của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện, hoạt động theo đúng quy chế đã đề ra; Ban phải chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể hàng năm làm cơ sở cho UBND huyện xem xét cấp kinh phí; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở các ngành huyện và cơ sở để đảm bảo việc triển khai thực hiện Luật; tỉnh, huyện hỗ trợ tập huấn cho cán bộ xã làm công tác bình đẳng giới.

Giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 21/2007/NQ-HĐND ngày 14 tháng 12 năm 2007 của HĐND tỉnh về Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.

Qua giám sát, Ban nhận thấy: Nghị quyết số 21/2007/NQ-HĐND được UBND tỉnh và ngành văn hóa, thể thao và du lịch có nhiều quan tâm triển khai thực hiện, 4/5 chỉ tiêu về du lịch đã đạt và vượt so với kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, nhìn chung ngành du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh; các điểm du lịch chủ yếu là nhỏ lẻ, mang tính tự phát; một số dự án ưu tiên đầu tư được đưa ra trong Nghị quyết nhưng đến nay chưa được thực hiện hoặc thực hiện không đúng mục đích; chưa có chính sách, cơ chế đặc thù để thu hút du lịch,.v.v..

Ban kiến nghị: UBND tỉnh tiến hành đánh giá 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 21/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh trong năm 2017, trên cơ sở đó, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tham mưu xây dựng Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 21/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh hoặc bổ sung giải pháp mới phù hợp với tình hình thực tế phát triển du lịch hiện nay của địa phương cho giai đoạn từ nay đến năm 2030; thành lập hội đồng đánh giá lại tính hiệu quả của Dự án đầu tư khai thác du lịch cồn Phú Bình, huyện Chợ Lách, từ đó có hướng xử lý phù hợp; giải quyết vấn đề xây kè chống sạt lở khu du lịch cồn Bửng, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú; xem xét việc cho thuê đất nuôi cá gây ảnh hưởng đến môi trường phát triển du lịch tại cồn Tiên, xã Tiên Long, huyện Châu Thành.

Giám sát tình hình tổ chức quản lý dạy thêm, học thêm trong và ngoài nhà trường 

Khuôn viên Trường THCS Phú Hưng, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre (ảnh: Nguyễn Lâm)

Qua giám sát, Ban nhận thấy: từ khi thực hiện Thông tư số 17/2012/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 5 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quyết định 17/2013/QĐ-UBND của UBND tỉnh, tình hình dạy thêm, học thêm trên địa bàn tỉnh dần đi vào nề nếp. Hoạt động dạy thêm trong nhà trường được tổ chức thực hiện tương đối bài bản, đúng quy định, đáp ứng nhu cầu học thêm chính đáng của học sinh, góp phần cải thiện thu nhập chính đáng của giáo viên. Dạy thêm ngoài nhà trường dần được đưa vào quản lý thông qua việc cấp phép và thanh, kiểm tra hoạt động của các cơ sở. Mặc dù vẫn còn xảy ra các trường hợp dạy thêm sai quy định nhưng mức độ gây bức xúc nhìn chung có giảm.

Ban kiến nghị: UBND tỉnh nghiên cứu sửa đổi Quyết định 17/2013/QĐ-UBND để có quy định rõ việc cấp phép, quản lý việc dạy thêm của các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên cấp huyện, giáo viên nghỉ hưu, sinh viên mới ra trường; đồng thời, tỉnh tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng số lượng trường tổ chức dạy hai buổi/ngày để hạn chế tình trạng dạy thêm ngoài nhà trường sai quy định. Kiến nghị Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền và việc cấp phép, thanh tra, kiểm tra việc dạy thêm trong và ngoài nhà trường. UBND các huyện, thành phố chỉ đạo các xã, phường, thị trấn chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về dạy thêm, học thêm, nhất là việc phối hợp với ngành giáo dục thực hiện thanh tra, kiểm tra. Cục Thuế tỉnh chỉ đạo Chi Cục thuế các huyện, thành phố rà soát, chấn chỉnh việc thu nộp thuế của các cơ sở dạy thêm trên địa bàn./.

Bài, ảnh: Nguyễn Lâm

Các tin khác