Nhìn lại 10 năm quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bến Tre

Ngày đăng bài: 25/09/2017 | Tác giả: Nguyễn Lâm

Nghị quyết số 21/2007/NQ-HĐND về Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 được HĐND tỉnh Bến Tre khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 24 tháng 12 năm 2007. Nghị quyết đã trở thành nền tảng, công cụ vững chắc để UBND tỉnh, ngành văn hóa, thể thao và du lịch triển khai thực hiện, đạt nhiều kết quả thiết thực trong suốt 10 năm qua.

Điểm du lịch biển Cồn Bửng, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú đang được nhà đầu tư xây dựng mở rộng mặt bằng kinh doanh các dịch vụ du lịch (ảnh: Nguyễn Lâm)

Mục tiêu tạo định hướng cho phát triển du lịch

Quy hoạch phát triển du lịch Bến Tre dựa trên các loại hình du lịch chính là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch vui chơi – giải trí.

Phát triển các vùng du lịch các xã ven sông huyện Châu Thành, các xã phía Nam thành phố Bến Tre, vùng du lịch huyện Chợ Lách, vùng du lịch xã Thạnh Phong, Thạnh Hải huyện Thạnh Phú đang trở thành những điểm đến hấp dẫn du khách. Sản phẩm du lịch được các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch quan tâm đa dạng hóa, chất lượng từng bước có nâng lên.

Đến năm 2017, tỉnh đã thu hút được 33 dự án kinh doanh du lịch, trong đó có 09 dự án đã hoàn thành: Khách sạn Việt úc, Khách sạn Hoa Dừa, Khách sạn Dừa, Khách sạn Đông Nam Á 2, Khu nghỉ dưỡng Mỹ An, điểm du lịch Mekong – Hàm Luông, Trung tâm hội nghị tiệc cưới Đồng Khởi Palace, nhà hàng Sông nước Miền Tây, điểm du lịch Vàm Hồ; 4 dự án vừa kinh doanh vừa tiếp tục đầu tư: Khu du lịch Forever Green Resort, Điểm du lịch An Khánh (Cty TNHH TM Lô Hội), Điểm du lịch Phú An Khang, Điểm du lịch Lan Vương 2 với quy mô khá, hiện đại.

Cơ chế, chính sách để phát triển du lịch được chú trọng

Điểm di tích Đình Tân Hưng, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (ảnh: Nguyễn Lâm)

Chính sách về thuế: các dự án được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư chung của UBND tỉnh. Các dự án đầu tư trên địa bàn huyện được miễn giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

Chính sách về đất đai: những vị trí đầu tư có đất công, nhà nước sẽ giao mặt bằng và cho thuê đất như: cồn Phú Bình, cồn Phụng, cồn Nổi, Thừa Đức, Vàm Hồ, Khách sạn Việt Úc, Khách sạn Hàm Luông, khách sạn Dừa, Resort Mekong Pearl… những dự án không có đất công thì nhà đầu tư tự tìm đất như: Resort Forever Green, điểm dừng chân An Khánh, điểm dừng chân Phú An Khang, điểm du lịch Lan Vương.

Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngành du lịch: Giai đoạn 2006 – 2010 đạt 516 tỷ đồng (trong đó ngân sách 14 tỷ đồng, vốn xã hội hóa 502 tỷ đồng); giai đoạn 2011 – 2015 đạt 763 tỷ đồng (trong đó ngân sách 95 tỷ đồng, vốn xã hội hóa 668 tỷ đồng). Riêng phần đầu tư, tôn tạo di tích văn hóa-lịch sử là 41,35 tỷ đồng.

Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thực hiện in ấn và xuất bản Cẩm nang du lịch và Hướng dẫn du lịch, DVD du lịch Xứ Dừa (tiếng Việt - tiếng Anh - tiếng Hoa), sách Địa chỉ du lịch Bến Tre, Thông tin cần biết về du lịch Xứ Dừa và nhiều ấn phẩm khác; tổ chức, tham gia các hoạt động hội chợ, triển lãm, liên hoan, hội nghị trong và ngoài tỉnh để giới thiệu về du lịch Bến Tre. Ký hợp tác liên kết phát triển du lịch giữa các Trung tâm Thông tin xúc tiến du lịch các tỉnh (Tiền Giang - Vĩnh Long - Trà Vinh – Long An – Đồng Tháp) để cùng nhau tham gia các kỳ hội chợ và thông tin xúc tiến quảng bá du lịch của các tỉnh liên kết tạo nên “Một điểm đến – Sáu địa phương”.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực làm việc trên lĩnh vực du lịch: Ngành văn hóa, thể thao và du lịch tổ chức tập huấn văn bản quy phạm pháp luật cho các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch; tổ chức cho công chức, viên chức quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp tham dự nhiều khóa tập huấn nghiệp vụ du lịch do Tổng cục Du lịch tổ chức. Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch đã phối hợp mở 37 lớp với 1.763 học viên để tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về du lịch. Một số doanh nghiệp lớn mạnh dạn đầu tư mời gọi các chuyên gia quản trị du lịch trong và ngoài nước về làm công tác quản lý như: Forever Green Resort, khách sạn Việt – Úc, khách sạn Oasis Kiwi…

Việc liên kết, hợp tác trong, ngoài tỉnh để phát triển du lịch: tỉnh đã thành lập Cụm liên kết phát triển du lịch phía đông Đồng bằng sông Cửu Long và ký chương trình hợp tác, liên kết phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hà Nội và tỉnh Bạc Liêu.

Việc hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương: ngành văn hóa, thể thao, du lịch và các địa phương đã định hướng và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các điểm du lịch đầu tư, nâng cấp các sản phẩm du lịch gắn với lợi thế cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của địa phương như: tham quan sông nước, vườn cây ăn trái, vườn hoa kiểng, cơ sở sản xuất cây giống, đi đò chèo, xe ngựa, xe đạp, mô tô nước, tát mương bắt cá, nghe đàn ca tài tử…; tham quan các di tích văn hóa – lịch sử; tham quan cơ sở sản xuất, làng nghề truyền thống như lò gạch, dệt chiếu, sản xuất hoa kiểng, kẹo dừa và các đặc sản của Bến Tre.

Biên chế, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về du lịch; công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ này: Toàn tỉnh có 31 công chức, viên chức được phân công trực tiếp quản lý nhà nước về du lịch. Hàng năm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho công chức, viên chức làm công tác quản lý nhà nước về du lịch.

Nhiều chỉ tiêu phát triển du lịch đạt và vượt kế hoạch đề ra

Tổng lượng khách du lịch đến các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng lên qua các năm, năm 2010 khách du lịch đến Bến Tre đạt 540.209 lượt (Nghị quyết: 505.000 lượt), vượt 6,97% so với Nghị quyết. Năm 2015 đạt 1.000.000 lượt khách (Nghị quyết: 780.000 lượt), vượt 28,21% so với Nghị quyết. Tốc độ tăng trưởng bình quân 12%/năm (Nghị quyết 10,04%/năm. Năm 2016 đạt 1.153.075 lượt (tăng 15% so cùng kỳ, Nghị quyết tăng 8,67%/năm).

Cùng với sự gia tăng về tổng lượng khách du lịch, tổng thu từ khách du lịch cũng tăng qua các năm. Năm 2010 đạt 245,228 tỉ đồng (Nghị quyết: 226,9 tỉ đồng), vượt 8,08% so với Nghị quyết. Năm 2015 đạt 700 tỉ đồng (Nghị quyết 646,9 tỉ đồng), vượt 8,21% so với Nghị quyết. Năm 2016 đạt 860 tỉ đồng, tăng 23% so với cùng kỳ. Đây là số liệu được tổng hợp từ các điểm kinh doanh du lịch, thực tế con số này chưa tính đến nguồn thu từ các hoạt động mua sắm bên ngoài của du khách, góp phần lớn làm tăng tổng nguồn thu của xã hội.

Tỉnh đã tập trung khá tốt nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch, nhất là hạ tầng giao thông. Giai đoạn 2006 – 2010, tổng vốn đầu tư toàn xã hội để phát triển du lịch đạt 516 tỷ đồng (Nghị quyết 449 tỷ đồng), vượt 15% so với Nghị quyết, trong đó vốn ngân sách chiếm 3% (Nghị quyết 10%); giai đoạn 2011 – 2015 đạt 763 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách chiếm 12,5%, vượt 2,5% so với Nghị quyết. Năm 2016 đạt 46,98 tỷ đồng, trong đó ngân sách chiếm 39,5%.

Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các tuyến du lịch nội tỉnh, liên tỉnh, tận dụng khá tốt điều kiện tự nhiên, sông nước miệt vườn để thu hút du khách trong, ngoài tỉnh và khách quốc tế với các tuyến chủ yếu:

+ Tuyến du lịch nội tỉnh: bao gồm các tuyến điểm du lịch Châu Thành; các xã phía Nam thành phố Bến Tre và các điểm du lịch thuộc các huyện Giồng Trôm, Ba Tri; đồng thời, đã và đang mở rộng, phát triển thêm các tuyến thuộc khu vực các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách và Thạnh Phú.

+ Tuyến liên tỉnh: đã hình thành các tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Bến Tre; thành phố Hồ Chí Minh – Tiền Giang – Bến Tre – Trà Vinh – Cần Thơ; thành phố Hồ Chí Minh - Vĩnh Long – Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang; các tuyến miền Trung, Tây Nguyên, miền Bắc.

+ Tuyến Du lịch đường sông: ngành du lịch đã khai thác tốt các tuyến dọc Sông Tiền, huyện Châu Thành; sông Hàm Luông, thành phố Bến Tre và một số điểm trên Sông Cổ Chiên, huyện Chợ Lách. Ngoài ra, ngành đã và đang phối hợp với các doanh nghiệp du lịch nghiên cứu, phát triển tuyến du lịch đường sông “Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Mỏ Cày Nam – Trà Vinh”; tuyến homestay tại Mỏ Cày Bắc; các tuyến thuộc dự án “Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển tại Bến Tre”.

Cơ sở sản xuất kẹo dừa Quê Dừa, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (ảnh: Nguyễn Lâm)

Nên tổng kết và lập quy hoạch mới về phát triển du lịch tỉnh Bến Tre giai đoạn tiếp theo

Để phát triển du lịch trong thời gian tới đạt hiệu quả tốt hơn, ông Trần Duy Phương, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kiến nghị HĐND tỉnh cho chủ trương tổng kết Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bến Tre đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, đồng thời cho lập Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bến Tre đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050.

Đồng ý với quan điểm trên, bà Nguyễn Thị Bé Mười, Trưởng Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh đề nghị UBND tiến hành đánh giá 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 21/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh trong năm 2017, trên cơ sở đó, UBND tỉnh tham mưu xây dựng Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 21/2007/NQ-HĐND hoặc bổ sung giải pháp mới phù hợp với tình hình thực tế phát triển du lịch hiện nay của địa phương cho giai đoạn từ nay đến năm 2030.

Có thể nói sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 21/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, tình hình phát triển du lịch của tỉnh thật sự có nhiều khởi sắc, lượng khách và doanh thu từ du lịch đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần to lớn trong việc nâng cao thu nhập, đời sống của một bộ phận người dân.

Tuy nhiên, một số dự án ưu tiên đầu tư đến năm 2010 được nêu ra trong Nghị quyết nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa thể triển khai thực hiện tốt như: khu du lịch sinh thái, văn hóa cộng đồng cồn Ốc; điểm du lịch cồn Phú Bình; khu du lịch gắn với khu di tích lịch sử Đồng Khởi ở huyện Mỏ Cày; điểm du lịch biển Thừa Đức; điểm du lịch biển Thới Thuận.

Trong khi đó, một số điểm du lịch không quy hoạch nhưng được tư nhân đầu tư phát triển, thu hút nhiều du khách như: điểm du lịch biển Cồn Bửng, khu du lịch Forever Green Resort, điểm du lịch Phú An Khang,.v.v.. Đồng thời, một số chỉ tiêu về tổng lượng khách du lịch, tổng doanh thu từ du lịch đến năm 2017 đã cơ bản đạt được chỉ tiêu đặt ra đến năm 2020. Do đó, việc khép lại Nghị quyết số 21/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh và đề ra một quy hoạch mới phù hợp với tình hình thực tế sẽ là một hành động tích cực để định hướng du lịch Bến Tre phát triển tốt hơn./.

Bài, ảnh: Nguyễn Lâm