Các địa phương cần thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, gắn với tổ chức đại diện của hộ nông dân liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Ngày đăng bài: 14/08/2017 | Tác giả: Mộng Ni

Thực hiện chương trình công tác 6 tháng cuối năm 2017, từ ngày 01-08 tháng 8 năm 2017, Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức khảo sát đối với Ủy ban nhân dân các huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách và Châu Thành về chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Đoàn khảo sát do ông Nguyễn Văn Quới, Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách làm Trưởng đoàn; tham gia đoàn khảo sát có các thành viên của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh; đại diện Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh.

 Ban Kinh tế - Ngân sách khảo sát cánh đồng lớn tại huyện Ba Tri (ảnh: Mộng Ni)

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị tăng thêm gắn với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của tỉnh nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện, sản xuất hướng vào thị trường và phát triển bền vững. Nhằm thực hiện mục tiêu trên, ngày 04 tháng 12 năm 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 17/2015/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Nghị quyết số 17). Tiếp theo đó, ngày 03 tháng 8 năm 2016, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 08/2016/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản gắn với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre (Nghị quyết số 08).

Đây là 02 chính sách quan trọng của tỉnh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp – nông thôn, liên kết với hộ nông dân và tổ chức đại diện của họ để tổ chức lại sản xuất, xây dựng cánh đồng lớn, liên kết cung ứng dịch vụ đầu vào phục vụ sản xuất và liên kết đầu ra tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Công tác triển khai thực hiện Nghị quyết số 17 và Nghị quyết số 08: các địa phương đã tổ chức triển khai cho các phòng, ban chức năng, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn về 02 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn, Nghị định số 55/2016/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp và Quyết định số 41/2016/QĐ-UBND ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định về nguyên tắc, điều kiện, đối tượng, hồ sơ, trình tự thủ tục thực hiện chính sách hỗ trợ tổ hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản gắn với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và Quyết định số 15/2016/QĐ-UBND ngày 27 tháng 4 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tiêu chí cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh.

Xây dựng phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong sản xuất nông nghiệp: Huyện Giồng Trôm đã thành lập được 07 hợp tác xã, trong đó có 06 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp theo Luật Hợp xã năm 2012 với 143 thành viên tham gia và 115 tổ hợp tác trong đó có 79 tổ hợp tác hoạt động theo Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của các tổ hợp tác, số lượng thành viên tham gia 3.416 người.

Huyện Ba Tri có 07 hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản với 9.727 thành viên tham gia và 175 tổ hợp tác với 2.711 thành viên tham gia. Huyện Chợ Lách có 04 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với 195 thành viên và 102 tổ hợp tác với 2.267 thành viên.

Huyện Châu Thành đang tiến hành hiệp thương vận động thành lập 02 hợp tác xã đó là hợp tác xã chôm chôm xã Tiên Long và hợp tác xã bưởi da xanh huyện Châu Thành. Toàn huyện hiện có 65 tổ hợp tác trong các lĩnh vực sản xuất, trong đó có 12 tổ hợp tác hoạt động khá tốt có liên kết cung ứng dịch vụ đầu vào cho sản xuất và liên kết đầu ra tiêu thụ sản phẩm khá ổn định.

Tổ hợp tác và hợp tác xã tổ chức liên kết nông dân lại, hợp tác sản xuất với quy mô lớn hơn, thực hiện chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất, đồng thời là tổ chức đại diện cho hộ nông dân để liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Xây dựng mô hình liên kết sản xuất, cánh đồng mẫu lớn: Giồng Trôm xây dựng được 04 mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa các tổ chức đại diện hộ nông dân và doanh nghiệp. Mô hình cánh đồng dừa hữu cơ ở xã Hưng Lễ, Thạnh Phú Đông và Tân Lợi Thạnh với quy mô diện tích là 743 ha, dự kiến mở rộng 1.200 ha. Mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm dừa xã Phong Nẫm với quy mô diện tích là 17 ha, dự kiến mở rộng đạt 500 ha. Mô hình cánh đồng lúa lớn tại 02 xã Bình Thành và Phong Mỹ với diện tích 400 ha. Mô hình liên kết sản xuất, thu mua dừa xiêm xuất khẩu tại Phong Mỹ là 6,5 ha, dự kiến mở rộng 150 ha.

Trên địa bàn huyện Ba Tri đã xây dựng được 04 mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa các tổ chức đại diện của hộ nông dân và doanh nghiệp đó là mô hình cánh đồng mẫu lớn lúa ở xã Tân Xuân với quy mô 50 ha; mô hình cánh đồng lớn lúa xã Mỹ Nhơn với quy mô 139,5 ha, hiện nay còn duy trì hoạt động ở quy mô 100 ha; mô hình cánh đồng lúa lớn xã An Bình Tây với quy mô 40 ha; mô hình cánh đồng lớn lúa xã An Ngãi Trung với quy mô 42 ha.

Ban Kinh tế - Ngân sách làm việc với UBND huyện Ba Tri (ảnh: Mộng Ni)

Huyện Chợ Lách xây dựng được mô hình sản xuất chôm chôm theo tiêu chuẩn GAP với quy mô 300 ha có sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp với nông hộ.

Huyện Châu Thành có 12 tổ hợp tác có tổ chức mô hình liên kết sản xuất: bưởi da xanh, sản xuất rau màu sạch an toàn và sản xuất chôm chôm, hoạt động khá ổn định đóng vai trò tích cực trong liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

Thực hiện chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết 17/2015/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2016/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh: các địa phương đã lồng ghép vào chương trình khuyến nông, khuyến công để hỗ trợ xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất có hiệu quả; hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật; mua sắm máy nông nghiệp; tập huấn cho nông dân và đào tạo cán bộ cho tổ hợp tác.

Trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như nhận thức của hộ nông dân, doanh nghiệp và các tổ chức đại diện của nông dân (tổ hợp tác và hợp tác xã) về nội dung, điều kiện, đối tượng được hỗ trợ theo Nghị quyết 17/2015/NQ-HĐND và Nghị quyết số 08/2016/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh chưa thật sự tốt. Doanh nghiệp cũng chưa tiếp cận tốt nguồn lực chính sách này dẫn đến tác động của chính sách vào thực tế sản xuất hiệu quả không cao.

Phong trào phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã còn yếu kém; tổ hợp tác và hợp tác xã chưa đóng được vai trò trung tâm liên kết nông dân để tổ chức lại sản xuất theo thị trường và liên kết với doanh nghiệp để cung ứng đầu vào cho sản xuất và liên kết đầu ra để tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nhằm phát triển chuỗi giá trị sản phẩm.

Mô hình liên kết giữa nông dân và các tổ chức đại diện của nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm còn nhiều bất cập, nông dân không thực hiện đúng hợp đồng cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp, khi thị trường tiêu thụ sản phẩm khó khăn, doanh nghiệp đưa ra tiêu chuẩn sản phẩm khắc khe hơn, nông dân không đáp ứng được dẫn đến mối liên kết này không bền vững.

Nội dung chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 17 và Nghị quyết số 08 của Hội đồng nhân dân tỉnh chậm được thực hiện là do chưa xây dựng cánh đồng lớn liên kết theo các tiêu chí được quy định tại Quyết định số 41/2016/QĐ-UBND ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Qua khảo sát, Ban Kinh tế - Ngân sách kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân các huyện: Tập trung củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của tổ hợp tác, hợp tác xã; tổ chức đại diện này của hộ nông dân phải đảm bảo được vai trò liên kết nông dân lại, tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn, tiếp nhận chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, sản xuất sản phẩm sạch theo yêu cầu thị trường; đại diện cho hộ nông dân hợp đồng liên kết cung ứng sản phẩm cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu.

Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, gắn với tổ chức đại diện của hộ nông dân. Thực hiện xây dựng cánh đồng lớn liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Trình tự, thủ tục xây dựng cánh đồng lớn liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo quy định tại Quyết định số 41/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh, trên cơ sở quy định tại phụ lục I, II, III ban hành kèm theo Thông tư số 15/2014/TT-BNNPTNT ngày 29 tháng 4 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vì đây là điều kiện để thực hiện Nghị quyết số 17 và Nghị quyết số 08 của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Tiếp tục tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 17 và Nghị quyết số 08 của Hội đồng nhân dân tỉnh. Nhân rộng mô hình cánh đồng lớn nhằm tạo điều kiện thực hiện các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 17 và Nghị quyết số 08 của Hội đồng nhân dân tỉnh./.

Bài, ảnh: Mộng Ni